https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/issue/feedTạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển2026-09-30T10:48:55+07:00Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triểnjournal@thanhdouni.edu.vnOpen Journal Systems<p>Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và phát triển (Tên tiếng Anh: Journal of Scientific Research and Development) là cơ quan báo chí thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học, công nghệ của Trường Đại học Thành Đô. Tạp chí được Bộ Thông tin và Truyền Thông cấp giấy phép hoạt động số 430/GP- BTTTT ngày 24 tháng 8 năm 2022 và có mã số chuẩn quốc tế là: ISSN 2815-570X.</p> <p>Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và phát triển là tạp chí đa lĩnh vực, công bố các công trình khoa học, công nghệ thuộc các lĩnh vực: Chính trị học, Giáo dục học, Tâm lý học, Luật học, Kinh tế học, Y dược, Văn hóa, Du lịch, Ngôn ngữ, Công nghệ điện - điện tử, Công nghệ kỹ thuật ô tô, Công nghệ thông tin và Truyền thông (ICT), Mỹ thuật ứng dụng... bao gồm:</p> <p>1. Bài báo nghiên cứu: Bài viết trình bày những kết quả nghiên cứu mới (nghiên cứu gốc) có chất lượng khoa học, hay đề xuất một phương pháp mới, ý tưởng mới hoặc một giải pháp mới.</p> <p>2. Bài tổng hợp: Bài viết được tổng hợp từ các nguồn tư liệu thứ cấp về một chủ đề cụ thể.</p> <p>3. Đăng các giới thiệu, quảng cáo theo quy định, phù hợp với giấy phép xuất bản và theo sự phê duyệt của Tổng Biên tập.</p>https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/422KHOẢNG TRỐNG THỂ CHẾ CỦA THỊ TRƯỜNG CARBON VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN THÍ ĐIỂM 2025–20282026-09-05T16:17:26+07:00Thị Thu Hà Nguyễnhanguyenccr@gmail.comThị Thanh Huyền Đinhdtthuyen@thanhdouni.edu.vn<p><em>Bài viết xem xét các khoảng trống thể chế của thị trường carbon Việt Nam trong giai đoạn thí điểm 2025–2028 trên cơ sở thông tin cập nhật đến ngày 19 tháng 8 năm 2026. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thể chế định tính, tập trung vào các thành tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hệ thống mua bán phát thải (ETS), bao gồm thiết kế và phân bổ hạn ngạch; đo đạc, báo cáo và thẩm tra (MRV), vận hành thị trường và tuân thủ; quản trị tín chỉ carbon và liên kết quốc tế. Kết quả cho thấy khung pháp lý và hạ tầng cơ bản của thị trường đã được hình thành, song hiệu quả vận hành của một số cơ chế chưa thể đánh giá đầy đủ do thị trường mới ở giai đoạn đầu của chu kỳ tuân thủ. Hoạt động giao dịch ban đầu còn hạn chế, với 1.210 tCO₂e được giao dịch trong phiên đầu tiên, nhưng chưa đủ bằng chứng để kết luận thị trường thiếu thanh khoản mang tính cấu trúc. Đồng thời, mức độ khan hiếm của hạn ngạch, chất lượng MRV, hiệu quả tuân thủ, khả năng hình thành giá và sự liên kết giữa tín chỉ carbon trong nước với các cơ chế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris vẫn cần được tiếp tục theo dõi và kiểm chứng bằng dữ liệu vận hành thực tế. Trên cơ sở phân biệt giữa các vấn đề đã có bằng chứng, các bất định trong thiết kế và những nội dung cần kiểm chứng sau chu kỳ tuân thủ, nghiên cứu đề xuất các ưu tiên chính sách và nhóm chỉ số theo dõi nhằm phục vụ đánh giá giai đoạn thí điểm và hoàn thiện thị trường carbon Việt Nam trước khi chuyển sang giai đoạn vận hành chính thức.</em></p>2026-09-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triểnhttps://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/407PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GENAI CÓ TRÁCH NHIỆM CHO NGƯỜI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ2026-08-11T14:16:19+07:00Văn Diễn Nguyễnnvdien@thanhdouni.edu.vnThùy Trang Nguyễnthuytrang@thanhdouni.edu.vnHoàng Thanh Tùng Vũtungvht99@gmail.comThị Thu Trang Nguyễnntttrang@thanhdouni.edu.vn<p><em>Nghiên cứu phân tích hiện trạng sử dụng AI tạo sinh (GenAI), mức độ hướng dẫn chính thức và các biểu hiện năng lực sử dụng AI có trách nhiệm của cộng đồng người học tại Trường Đại học Thành Đô, từ đó đề xuất khung phát triển năng lực gắn với hệ sinh thái học tập suốt đời. Khung năng lực AI của UNESCO được sử dụng làm cơ sở tham chiếu để tổ chức phân tích và thiết kế giải pháp, không được dùng như một thang đo chuẩn hóa để chấm điểm hay xếp loại người học. Nghiên cứu trường hợp theo phương pháp hỗn hợp, với định lượng giữ vai trò chủ đạo, được thực hiện trên 635 phiếu khảo sát hợp lệ gồm sinh viên đang học và người đã tốt nghiệp. Kết quả cho thấy việc sử dụng GenAI đã trở thành thói quen phổ biến và gắn chặt với nhận thức của người học về vai trò nghề nghiệp của AI, trong khi tỷ lệ được hướng dẫn tương đối đầy đủ còn thấp, tạo ra khoảng trống tỉ lệ xấp xỉ 45% giữa thực hành sử dụng và hỗ trợ thể chế. Đáng chú ý, hình thức hướng dẫn hiện hành không đi kèm mức độ nhận diện năng lực đa dạng hơn và cường độ sử dụng cao không đồng nghĩa với biểu hiện năng lực toàn diện; người đã tốt nghiệp vẫn sử dụng GenAI thường xuyên nhưng phần lớn nằm ngoài các cơ chế hỗ trợ chính thức. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình phát triển năng lực bốn lớp gồm chuẩn năng lực cấp trường, chương trình AI literacy, chính sách sử dụng có trách nhiệm, tích hợp theo ngành, lộ trình học tập sau tốt nghiệp, học bổng và hợp tác Nhà trường - Người học - Doanh nghiệp.</em></p>2026-09-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triểnhttps://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/419 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG NGÔN NGỮ CỦA DU HỌC SINH VIỆT NAM TẠI TRUNG QUỐC: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP KHU VỰC VŨ HÁN2026-09-15T15:24:36+07:00Lê Ngọc Huyền Phan plyxuan@qq.com<p>Cùng với việc triển khai sâu rộng sáng kiến "Vành đai và Con đường", giao lưu giáo dục và nhân văn giữa Trung Quốc và Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu. Đời sống ngôn ngữ của du học sinh Việt Nam tại Trung Quốc đã trở thành cửa sổ quan trọng để quan sát hiệu quả giáo dục tiếng Trung quốc tế và quá trình thích ứng xuyên văn hóa. Bài báo lấy du học sinh Việt Nam tại khu vực Vũ Hán làm đối tượng nghiên cứu, đứng từ góc độ "đời sống ngôn ngữ", khảo sát việc sử dụng ngôn ngữ, thái độ và nhận diện ngôn ngữ, tự đánh giá năng lực và nhu cầu học tập của sinh viên trong môi trường tương tác đa tầng "tiếng phổ thông - phương ngữ địa phương - tiếng mẹ đẻ". Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc và phân tích dữ liệu, thu được 217 phiếu hợp lệ. Kết quả cho thấy: Thứ nhất, đời sống ngôn ngữ của du học sinh Việt Nam tại Vũ Hán có đặc điểm cấu trúc "tiếng Trung chủ đạo, đa ngữ phân tầng, bối cảnh phân hoá", trong đó việc mở rộng phạm vi tiếp xúc xã hội thực tế lại làm bộc lộ rõ hơn rào cản do phương ngữ. Thứ hai, người được hỏi nhìn chung có thái độ tích cực đối với tiếng Trung, coi đây vừa là công cụ quan trọng để hoàn thành học tập và mở rộng cơ hội việc làm, vừa dần trở thành con đường để hiểu xã hội và tham gia đời sống bản địa; nhận thức về phương ngữ Vũ Hán thể hiện tính quá trình rõ rệt. Thứ ba, hoà nhập văn hóa không diễn ra tuyến tính mà theo trình tự "tiếp cận trước, tham gia sau, điều hoà sau cùng". Thứ tư, vấn đề chủ yếu trong đời sống ngôn ngữ của du học sinh không chỉ là thiếu hụt kiến thức ngôn ngữ, mà còn thể hiện ở khoảng cách giữa thành tích thi chuẩn hoá và năng lực giao tiếp thực tế. Từ những phát hiện trên, bài báo đề xuất kiến nghị ở ba cấp độ: chuyển hướng thực hành cá nhân, tối ưu hoá giảng dạy trên lớp, và kết nối hệ thống hỗ trợ xã hội, nhằm cung cấp căn cứ thực nghiệm cho nghiên cứu khu vực về giáo dục tiếng Trung quốc tế, tối ưu hoá giảng dạy tiếng Trung cho người Việt và công tác hỗ trợ hoà nhập xã hội của du học sinh.</p>2026-09-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triểnhttps://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/413KHUNG PHÁP LÝ MỚI CỦA VIỆT NAM VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ TƯƠNG LAI CỦA VIỆC LÀM: CÂN BẰNG GIỮA ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG2026-08-07T14:25:26+07:00Thị Hằng Trầnhanghavkt@gmail.com<p><em>Luật Trí tuệ nhân tạo của Việt Nam có hiệu lực từ tháng 3 năm 2026, cùng các quy định về phân loại rủi ro, đánh giá sự phù hợp, báo cáo sự cố và quản lý hệ thống rủi ro cao. Bài viết đánh giá khả năng cân bằng giữa đổi mới sáng tạo do AI dẫn dắt với bảo vệ và thích ứng của người lao động. Nghiên cứu kết hợp phân tích pháp luật, chính sách Việt Nam đến tháng 8 năm 2026; so sánh chức năng với Đạo luật AI của Liên minh châu Âu và tổng hợp có chọn lọc bằng chứng thị trường lao động. Kết quả cho thấy: (1) AI chủ yếu làm thay đổi nhiệm vụ thay vì gây mất việc trên diện rộng, song tác động khác nhau theo nghề nghiệp, giới tính, kỹ năng, tính chính thức của việc làm và năng lực doanh nghiệp; (2) khoảng trống pháp lý chính không còn là thiếu khuôn khổ thực thi, mà là Quyết định số 33/2026/QĐ-TTg chưa tự động xếp các hệ thống có ảnh hưởng đáng kể đến việc làm vào nhóm rủi ro cao và (3) pháp luật về lao động, dữ liệu cá nhân, việc làm và giáo dục nghề nghiệp đã có các cơ chế bảo vệ nhưng còn phân tán. Bài viết đề xuất mở rộng có trọng điểm phạm vi hệ thống rủi ro cao; đánh giá tác động của AI tại nơi làm việc gắn với quyền được thông báo và phản đối; tăng cường phối hợp thực thi và hỗ trợ kỹ năng mang tính đón đầu thông qua các thiết chế việc làm, đào tạo hiện hành.</em></p>2026-09-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triểnhttps://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/423AN NINH KINH TẾ BIỂN: MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA SAU 10 NĂM SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN DO FORMOSA HÀ TĨNH GÂY RA2026-09-15T15:15:43+07:00Đăng Bộ Trầntdbo@thanhdouni.edu.vnThị Thanh Minh Vũvttminh@thanhdouni.edu.vn<p><em>Sự cố môi trường biển do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016 là ví dụ điển hình về xung đột giữa một doanh nghiệp FDI với cộng đồng cư dân và là thách thức an ninh phi truyền thống lần đầu xảy ra ở vùng biển Việt Nam, đe dọa nghiêm trọng an ninh kinh tế biển. Sự cố không chỉ tác động đến môi trường, tài nguyên biển, sự tồn tại và phát triển của con người, sinh vật biển ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến sinh kế của nhiều người dân, ngư dân. Nguy hại hơn, những tác động đối với an ninh kinh tế biển và phát triển bền vững kinh tế biển còn kéo dài nhiều năm sau. Sau 10 năm, sự cố Formosa Hà Tĩnh tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề về quản trị rủi ro, phòng ngừa, giám sát và ứng phó với sự cố môi trường biển ở cả tầm quốc gia và chính quyền địa phương.</em></p>2026-09-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triểnhttps://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/424SỰ CHUYỂN DỊCH CHÍNH SÁCH VÀ THÍCH ỨNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC QUA CÁC NGHỊ QUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM2026-09-05T08:46:34+07:00Thị Hằng Phùnghangpt@neu.edu.vn<p><em>Chính sách phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2017 - 2026 cho thấy sự kế thừa và chuyển dịch trọng tâm theo hướng phát triển theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, thông minh, xanh và sáng tạo. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, phân tích nội dung và so sánh chính sách theo thời gian đối với Nghị quyết số 08-NQ/TW (2017), Nghị quyết số 82/NQ-CP (2023) và Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị (2026); đồng thời đối chiếu 18 công trình khoa học trong bối cảnh Việt Nam gồm các nghiên cứu về yêu cầu năng lực và các nghiên cứu về sự thích ứng của đào tạo du lịch để đánh giá sự thích ứng của đào tạo du lịch. Các chính sách được phân tích theo 5 phương diện: mục tiêu và định hướng; phương thức phát triển và gia tăng giá trị; liên kết và huy động nguồn lực; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển xanh và bền vững. Nghiên cứu nhận diện xu hướng mở rộng yêu cầu năng lực theo hướng tích hợp năng lực nghề nghiệp và quản trị với năng lực số, sáng tạo, liên ngành, phát triển bền vững và thích ứng. Kết quả cho thấy thích ứng nội dung thể hiện rõ hơn thích ứng cấu trúc, trong khi thích ứng chủ động còn hạn chế, phản ánh sự bất cân xứng trong thích ứng đào tạo. Nghiên cứu làm rõ mối quan hệ giữa chuyển dịch chính sách, yêu cầu năng lực và thích ứng đào tạo; từ đó đề xuất chuyển từ thích ứng phản ứng sang chủ động thông qua dự báo yêu cầu năng lực, cập nhật chuẩn đầu ra, tăng tính linh hoạt của chương trình, củng cố phản hồi giữa chính sách, thị trường lao động và đào tạo.</em></p>2026-09-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triểnhttps://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/411NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ2026-08-03T09:18:55+07:00Vũ Bảo Thư Chubaothu2911@gmai.com<p><em>Bài viết vận dụng lý thuyết chi phí giao dịch và quản trị mạng lưới để đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế du lịch tại Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi số giai đoạn từ năm 2022 đến tháng 3 năm 2026. Nghiên cứu kết hợp dữ liệu thứ cấp với phỏng vấn sâu bán cấu trúc 10 chuyên gia được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu đích (thuộc cơ quan quản lý, doanh nghiệp lữ hành - lưu trú và giới nghiên cứu kinh tế). Đóng góp mới cốt lõi của nghiên cứu là nhận diện 03 hạn chế về thể chế - kinh tế khiến chuyển đổi số du lịch thủ đô mới dừng ở "số hóa quy trình bề nổi" mà chưa tạo bứt phá trong điều hành thị trường cụ thể gồm: (1) Đứt gãy và phân tán dữ liệu liên ngành; (2) Cơ chế tài chính công và đầu tư công thiếu linh hoạt làm gia tăng chi phí giao dịch; (3) Khoảng cách năng lực số của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp cho giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2030 dựa trên 03 trụ cột: (1) liên thông dữ liệu qua giao diện lập trình ứng dụng (API); (2) chuyển dịch sang điều hành thị trường bằng dữ liệu thời gian thực (3) phát triển hệ sinh thái số gắn với đòn bẩy tài chính thực chất.</em></p>2026-09-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triểnhttps://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/398MÔ HÌNH NHÀ Ở CHIA SẺ VÀ BÀI TOÁN TÁI SỬ DỤNG NHÀ TRỌ CŨ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH2026-08-27T08:30:34+07:00Thanh Tùng Sơntungsr@hcmussh.edu.vnThị Minh Thư Nguyễn2356170093@hcmussh.edu.vnNgọc Anh Thư Nguyễn2356170092@hcmussh.edu.vnNgọc Mai Thy Nguyễn2356170096@hcmussh.edu.vnThị Minh Nguyệt Trần2356170061@hcmussh.edu.vnTrần Trúc Quỳnh Nguyễn2356170081@hcmussh.edu.vn<p><em>Nghiên cứu đánh giá tiềm năng chuyển đổi các khu nhà trọ xuống cấp thành không gian sống chia sẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng thiết kế hỗn hợp, kết hợp khảo sát định lượng, phỏng vấn bán cấu trúc và quan sát thực địa. Dữ liệu gồm khảo sát với 250 người trả lời (n=250), 08 phỏng vấn bán cấu trúc và quan sát thực địa tại các khu nhà trọ được khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình Co-living đáp ứng được nhu cầu tiện ích chung của người thuê, song đang đối mặt với một số rào cản đáng kể. Một số công trình nhà trọ cũ trong hẻm nhỏ gặp khó khăn khi đáp ứng các yêu cầu an toàn phòng cháy chữa cháy và cải tạo theo quy chuẩn hiện hành. Bên cạnh đó, chi phí cải tạo lớn tạo rủi ro thu hồi vốn do khả năng chi trả của khách thuê còn hạn chế, trong khi mô hình vẫn thiếu một định danh pháp lý rõ ràng. Ngoài ra, xu hướng ưu tiên riêng tư thể hiện ở mức độ sẵn sàng chia sẻ nhà vệ sinh thấp hơn so với các tiện ích chung khác - cũng đặt ra thách thức đáng kể cho công tác quản lý vận hành. Nghiên cứu cũng cho thấy mô hình cần sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua chính sách tín dụng ưu đãi, tinh giản thủ tục hành chính và xây dựng quy chuẩn kỹ thuật đặc thù cho công trình quy mô nhỏ. Trên cơ sở đó, mô hình có tiềm năng áp dụng ở một số khu vực phù hợp, như vùng lõi giáo dục, khu công nghiệp và khu vực có mạng lưới giao thông công cộng phát triển.</em></p>2026-09-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triểnhttps://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/420TRIỀU NGUYỄN VỚI CÔNG TÁC BIÊN SOẠN LỊCH SỬ VÀ GIÁ TRỊ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU HIỆN NAY2026-09-03T14:52:51+07:00Văn Bảo NguyễnNguyenbaovsh@gmail.com<p><em>Bài viết khảo sát một cách hệ thống chính sách, tổ chức và thực tiễn biên soạn lịch sử dưới triều Nguyễn, tập trung vào quá trình hình thành Sử cục năm 1811, sự kiện dựng Quốc sử quán từ năm 1820, chính thức hoạt động từ năm 1821 và sự hoàn thiện dần của bộ máy sử quan cho đến cuối triều Nguyễn. Trên cơ sở đối chiếu phân tích các bộ sử, địa chí, hội điển và nguồn tư liệu hành chính tiêu biểu như: “Đại Nam thực lục”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Đại Nam nhất thống chí”, “Đồng Khánh địa dư chí”,… bài viết làm rõ đặc điểm của hoạt động biên soạn sử học triều Nguyễn: tính nhà nước và tính quy phạm cao; sự kết hợp giữa ghi chép sự kiện, khảo cứu địa lý, chế độ và nhân vật; sự kế thừa phương pháp biên niên, cương mục và thực lục… đồng thời nhận diện những giới hạn do quan niệm chính thống, tư tưởng quân chủ và mục tiêu chính trị của sử quan đương thời. Từ đó, bài viết khẳng định giá trị nhiều tầng của khối di sản này đối với nghiên cứu lịch sử, địa lý lịch sử, thể chế, xã hội, kinh tế, văn hóa và lịch sử địa phương hiện nay. Trên</em><em> cơ sở đó, </em><em>đề xuất một số nguyên tắc khai thác: phê phán sử liệu, đối chiếu liên văn bản, kết hợp chính sử với châu bản và tư liệu địa phương, số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu liên ngành.</em></p>2026-09-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triểnhttps://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/415CÔNG NGHỆ mRNA HẬU COVID-19: ỨNG DỤNG MỚI, RÀO CẢN KỸ THUẬT VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM2026-09-05T16:24:50+07:00Văn Thịnh Phươngpvthinh@thanhdouni.edu.vn<p><em>Sau đại dịch COVID-19, công nghệ mRNA đã mở rộng từ nền tảng chủ yếu phục vụ vaccine phòng bệnh truyền nhiễm thành một nền tảng dược phẩm sinh học đa mục tiêu, với các hướng phát triển nổi bật gồm vaccine thế hệ mới, vaccine ung thư cá thể hóa và liệu pháp thay thế protein. Bài viết thực hiện tổng quan tường thuật có cấu trúc đối với các công bố trên PubMed/Medline, Scopus và Web of Science từ năm 2005 đến ngày 25 tháng 8 năm 2026; thư viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ và tài liệu quản lý được đối chiếu khi cần cập nhật tình trạng lâm sàng và pháp lý. Từ 185 tài liệu xác định ban đầu, 22 công bố khoa học được lựa chọn cho tổng hợp chính. Kết quả cho thấy mRNA có ưu thế về tốc độ thiết kế, khả năng chuẩn hóa một số công đoạn sản xuất và tính linh hoạt đối với y học chính xác. Bằng chứng hậu COVID-19 đã mở rộng sang RSV, cúm mùa, vaccine phối hợp, ung thư và một số bệnh chuyển hóa di truyền. Tuy nhiên, độ ổn định của RNA, hiệu quả và độ an toàn của lipid nanoparticles (LNP), khả năng hướng mô đích, yêu cầu dùng lặp lại, kiểm soát chất lượng và chi phí sản xuất vẫn là những thách thức đáng kể. Đối với Việt Nam, bài viết đề xuất lộ trình phát triển theo từng nhóm năng lực, từ thiết kế mRNA-tin sinh học và LNP-kiểm nghiệm đến tiền lâm sàng, lâm sàng và sản xuất. Đây là các hàm ý từ bằng chứng quốc tế và bối cảnh chính sách hiện hành, không thay thế cho một đánh giá chuyên biệt về năng lực quốc gia.</em></p>2026-09-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triểnhttps://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/404ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH CẤP VÀ TÁC DỤNG BẢO VỆ NIÊM MẠC DẠ DÀY CỦA CHẾ PHẨM CỐM DẠ DÀY DrG TRÊN MÔ HÌNH LOÉT DẠ DÀY ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM 2026-08-03T09:07:49+07:00Thị Yên Hoàngyenlinh2000@gmail.comThị Nguyệt Hằng Phạmphamhangtoyama@gmail.comThị Hoài Hà Nguyễnnthha@thanhdouni.edu.vnThị Nhi Hoànghoangthinhi113685@gmail.com<p><em>Viêm loét dạ dày là bệnh lý tiêu hóa phổ biến, trong khi điều trị kéo dài còn hạn chế bởi tác dụng không mong muốn và nguy cơ tái phát. Nghiên cứu nhằm đánh giá độc tính cấp đường uống và tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày của cốm DrG trên động vật thực nghiệm. Độc tính cấp được đánh giá trên chuột nhắt trắng Swiss albino ở hai liều 25,4 và 72,6 g/kg thể trọng, tương ứng gấp 10 và 26,4 lần liều ngoại suy từ người. Tác dụng bảo vệ niêm mạc được khảo sát trên chuột cống trắng Wistar bằng mô hình thắt môn vị (Shay). Các chỉ tiêu gồm tỷ lệ tử vong, biểu hiện độc tính, tổn thương đại thể và mô bệnh học, chỉ số loét và các thông số dịch vị. Kết quả cho thấy DrG không gây tử vong hoặc nhiễm độc toàn thân ở liều cao nhất được khảo sát. Trên mô hình gây loét, DrG liều 3,36 g/kg làm giảm chỉ số loét từ 33,17 ở lô chứng bệnh lý xuống 9,43, tương ứng với tỷ lệ ức chế 71,57% (p < 0,01), đồng thời cải thiện rõ rệt tổn thương đại thể và mô bệnh học niêm mạc dạ dày. Các thông số dịch vị có xu hướng cải thiện nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết quả cho thấy cốm DrG có độ an toàn cao và tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày trên mô hình thực nghiệm, cung cấp bằng chứng tiền lâm sàng cho việc phát triển chế phẩm và nghiên cứu tiếp theo về cơ chế tác dụng, chuẩn hóa chất lượng và hiệu quả lâm sàng.</em></p>2026-09-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển