Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt <p>Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và phát triển (Tên tiếng Anh: Journal of Scientific Research and Development) là cơ quan báo chí thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học, công nghệ của Trường Đại học Thành Đô. Tạp chí được Bộ Thông tin và Truyền Thông cấp giấy phép hoạt động số 430/GP- BTTTT ngày 24 tháng 8 năm 2022 và có mã số chuẩn quốc tế là: ISSN 2815-570X.</p> <p>Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và phát triển là tạp chí đa lĩnh vực, công bố các công trình khoa học, công nghệ thuộc các lĩnh vực: Chính trị học, Giáo dục học, Tâm lý học, Luật học, Kinh tế học, Y dược, Văn hóa, Du lịch, Ngôn ngữ, Công nghệ điện - điện tử, Công nghệ kỹ thuật ô tô, Công nghệ thông tin và Truyền thông (ICT), Mỹ thuật ứng dụng... bao gồm:</p> <p>1. Bài báo nghiên cứu: Bài viết trình bày những kết quả nghiên cứu mới (nghiên cứu gốc) có chất lượng khoa học, hay đề xuất một phương pháp mới, ý tưởng mới hoặc một giải pháp mới.</p> <p>2. Bài tổng hợp: Bài viết được tổng hợp từ các nguồn tư liệu thứ cấp về một chủ đề cụ thể.</p> <p>3. Đăng các giới thiệu, quảng cáo theo quy định, phù hợp với giấy phép xuất bản và theo sự phê duyệt của Tổng Biên tập.</p> Trường Đại học Thành Đô vi-VN Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2815-570X TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA NỘI BỘ TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/385 <p>Trong bối cảnh đổi mới quản lý giáo dục và mở rộng quyền tự chủ đại học tại Việt Nam, việc nâng cao chất lượng quản trị các cơ sở giáo dục đại học trở nên ngày càng cấp thiết. Thanh tra, kiểm tra nội bộ là một thành phần quan trọng, giúp các trường đại học đảm bảo trách nhiệm giải trình, minh bạch và tuân thủ trong mọi hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, tài chính, ... Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động thanh tra nội bộ hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế: Hệ thống văn bản chưa đồng bộ; đội ngũ nhân sự còn mỏng, kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ; năng lực chuyên môn hạn chế; ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về thanh tra, kiểm tra nội bộ; đánh giá thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế tại một số cơ sở giáo dục đại học; xác định nguyên nhân của những tồn tại; đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong bối cảnh chuyển đổi số và tự chủ đại học.</p> Thị Bích Hường Nguyễn Văn Khởi Trần Thế Tụng Đậu Thị Thanh Tâm Trần Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2026-06-30 2026-06-30 11 19 10.58902/tcnckhpt.v5i2.385 ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DÂN SỰ TẠI CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI, TRONG KỶ NGUYÊN MỚI: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/371 <p>Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một trong những đột phá chiến lược tạo động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; trong đó, chủ trương xã hội hóa giáo dục là giải pháp nhất quán để huy động mọi nguồn lực vĩ mô. Bên cạnh khối trường công lập và ngoài công lập, hệ thống nhà trường quân đội cũng sở hữu tiềm năng to lớn và đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, trình độ cao. Kết quả thực tiễn giai đoạn 2002–2022 khẳng định việc khối trường quân đội tham gia đào tạo hệ dân sự là hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển, đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhiệm vụ này không chỉ dừng lại ở tính cấp bách trước mắt mà đã trở thành định hướng mang tầm nhìn chiến lược dài hạn. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ định hướng chính trị, cơ sở pháp lý và căn cứ thực tiễn nhằm luận giải sâu sắc về vị thế, tầm quan trọng của nhiệm vụ này trong bối cảnh hiện nay.</p> Đăng Bộ Trần Thị Tâm Trần Thị Hương Tạ Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2026-06-30 2026-06-30 20 28 10.58902/tcnckhpt.v5i2.371 ĐỐI CHIẾU CÁCH BIỂU ĐẠT SỐ THẬP PHÂN, PHÂN SỐ VÀ QUAN HỆ BỘI SỐ TRONG TIẾNG TRUNG VÀ TIẾNG VIỆT: KHẢO SÁT LỖI CỦA NGƯỜI HỌC VIỆT NAM https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/381 <p>Bài viết đối chiếu cách biểu đạt số thập phân, phân số và quan hệ bội số trong tiếng Trung và tiếng Việt, đồng thời khảo sát lỗi của 106 người học Việt Nam trình độ HSK4–HSK6. Bằng phương pháp đối chiếu ngôn ngữ kết hợp phân tích lỗi, nghiên cứu làm rõ sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ về trật tự thành phần, quy tắc đọc, cách dùng đơn vị và quan hệ ngữ nghĩa. Kết quả cho thấy, ở số thập phân, người học thường đọc phần thập phân như số nguyên, lược bỏ “零” trong biểu đạt thời gian và xử lý chưa chính xác các đơn vị đo lường. Ở phân số, lỗi chủ yếu gồm đảo trật tự tử số – mẫu số, sử dụng chưa đúng cấu trúc phân số có phần nguyên và hiểu chưa đầy đủ các biểu thức “折”, “成”, “百分点”. Ở quan hệ bội số, người học dễ nhầm giữa quan hệ nhân bội và quan hệ tăng thêm, giữa “番” và “倍”, cũng như dịch trực tiếp cách diễn đạt sự giảm bằng bội số từ tiếng Việt sang tiếng Trung. Các mô hình lỗi phù hợp với giả thuyết về ảnh hưởng của tiếng Việt, đồng thời có thể liên quan đến việc chưa nội hóa đầy đủ quy tắc tiếng Trung và thiếu luyện tập trong ngữ cảnh thực tế. Từ đó, bài viết đề xuất tăng cường đối chiếu Hán – Việt một cách có trọng điểm, kết hợp giải thích quan hệ số lượng bằng công thức/sơ đồ và thiết kế hoạt động giao tiếp gắn với tình huống sử dụng thực tế trong giảng dạy tiếng Trung cho người Việt.</p> Hồng Vân Bùi Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2026-06-30 2026-06-30 29 39 10.58902/tcnckhpt.v5i2.381 BỒI DƯỠNG CHUẨN MỰC VĂN HÓA CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KỶ NGUYÊN MỚI https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/367 <p>Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền hành chính hiện đại, minh bạch và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc xây dựng đội ngũ cán bộ không chỉ đặt ra yêu cầu về năng lực chuyên môn, trình độ quản lý mà còn đòi hỏi ngày càng cao về chuẩn mực văn hóa công vụ. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc bồi dưỡng chuẩn mực văn hóa cho đội ngũ cán bộ; phân tích những kết quả đã đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của thực trạng hiện nay. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng chuẩn mực văn hóa cho đội ngũ cán bộ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Chuẩn mực văn hóa công vụ được khẳng định là nền tảng quan trọng của quá trình chuẩn hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đội ngũ cán bộ trong kỷ nguyên số.</p> Ngọc Ngân Trần Ngọc Chiến Trần Thị Trinh Ngô Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2026-06-30 2026-06-30 100 108 10.58902/tcnckhpt.v5i2.367 PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH, CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ VÀ CÁC ĐIỂM NGHẼN https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/382 <p>Nghiên cứu phân tích thực trạng phát triển kinh tế bền vững ở vùng đồng bào Khmer Nam Bộ, tập trung vào hiệu quả chính sách, chuyển đổi sinh kế và các điểm nghẽn ở cấp hộ gia đình. Dữ liệu nghiên cứu gồm hai bộ khảo sát với 100 cán bộ và 150 người dân Khmer, được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả và so sánh; đồng thời đối chiếu với các văn kiện chính sách, báo cáo phát triển vùng và các công trình nghiên cứu hiện có về thực hiện chính sách dân tộc, đào tạo nghề và những vấn đề cấp bách của cộng đồng Khmer. Kết quả cho thấy các chương trình hỗ trợ có mức độ chấp nhận xã hội cao, nhưng độ phủ thụ hưởng trực tiếp và khả năng chuyển hóa hỗ trợ thành năng lực tự phát triển còn chưa đồng đều. Sinh kế hộ Khmer đang dịch chuyển theo hướng tăng thu nhập ngoài nông nghiệp, song quy mô sản xuất vẫn nhỏ lẻ, vốn vay còn được sử dụng để bù đắp thiếu hụt sinh hoạt, mức độ ứng dụng kỹ thuật và liên kết thị trường ở cấp hộ còn hạn chế. Các điểm nghẽn nổi bật gồm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội bất lợi, thiếu vốn, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực thực thi chính sách, rủi ro khí hậu và khả năng tiếp cận thị trường. Nghiên cứu đề xuất chuyển trọng tâm từ hỗ trợ phân tán sang phát triển năng lực hộ gia đình và cộng đồng, gắn liền với tín dụng, đào tạo nghề, thích ứng khí hậu, liên kết chuỗi giá trị, chuyển đổi số và phát huy nguồn lực văn hóa Khmer.</p> Hữu Hải Nguyễn Đức Huy Tạ Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2026-06-30 2026-06-30 40 50 10.58902/tcnckhpt.v5i2.382 PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ THEO HƯỚNG KINH TẾ XANH Ở VÙNG TÂY BẮC: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/374 <p>Phát triển kinh tế hộ gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số hướng đến kinh tế xanh là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững và bảo vệ môi trường ở vùng Tây Bắc. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh tài liệu và tiếp cận liên ngành để làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế hộ gia đình theo hướng kinh tế xanh tại ba tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều mô hình kinh tế xanh đã bước đầu phát huy hiệu quả, tiêu biểu như nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, phát triển cây dược liệu dưới tán rừng, giao khoán bảo vệ rừng gắn với sinh kế, du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc. Các mô hình này góp phần đa dạng hóa sinh kế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng môi trường. Tuy nhiên, quá trình phát triển vẫn gặp nhiều khó khăn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, năng lực quản lý hạn chế, thiếu vốn, thiếu liên kết chuỗi giá trị, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ và tiếp cận thị trường còn thấp. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp về chuyển đổi mô hình sản xuất xanh, phát triển lâm nghiệp bền vững, du lịch xanh, hoàn thiện chính sách hỗ trợ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình theo hướng xanh, bền vững và thích ứng với yêu cầu phát triển mới.</p> Văn Dũng Nguyễn Thị Thuỳ Trần Ngọc Minh Nguyễn Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2026-06-30 2026-06-30 51 61 10.58902/tcnckhpt.v5i2.374 NGÔN NGỮ CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM: KHÔNG GIAN SỬ DỤNG XÃ HỘI TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/373 <p>Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay, ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đang có nhiều biến đổi về môi trường sử dụng, chức năng xã hội và khả năng truyền thừa giữa các thế hệ. Không chỉ là phương tiện giao tiếp, ngôn ngữ dân tộc thiểu số còn là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa, tri thức bản địa và ký ức cộng đồng của mỗi tộc người. Tuy nhiên, dưới tác động của đô thị hóa, di cư lao động, giao lưu văn hóa và truyền thông số, nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ thu hẹp “không gian sử dụng xã hội”, suy giảm vai trò trong đời sống đương đại và mai một dần trong thế hệ trẻ. Trên cơ sở phân tích thực trạng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là thực trạng sử dụng và bảo tồn tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số, bài viết tập trung nhận diện những biến đổi và những vấn đề đặt ra đối với việc duy trì “không gian sử dụng xã hội” của ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.</p> Thị Thanh Minh Vũ Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2026-06-30 2026-06-30 62 71 10.58902/tcnckhpt.v5i2.373 TỪ LÓNG TIÊU CỰC TRÊN MẠNG INTERNET TRONG GIAO TIẾP SỐ Ở VIỆT NAM: QUÁ TRÌNH GIẢI MÃ, ĐÁNH GIÁ VÀ TỰ ĐIỀU CHỈNH CÁCH SỬ DỤNG https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/384 <p>Bài viết nghiên cứu cách người dùng Internet tại Việt Nam tiếp xúc, giải mã, đánh giá và tự điều chỉnh việc sử dụng từ lóng tiêu cực trên mạng — những biểu thức có nghĩa không hoàn toàn rõ ràng và thường mang sắc thái mỉa mai, giễu nhại, hạ thấp, công kích hoặc bài xích/loại trừ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hiện tượng học diễn giải (Interpretative Phenomenological Analysis — IPA) đối với dữ liệu phỏng vấn sâu bán cấu trúc của 20 người dùng Internet tại Việt Nam. Kết quả cho thấy việc hiểu từ lóng tiêu cực trên mạng là một quá trình “giải mã kép”: người dùng vừa xác định nghĩa của biểu thức, vừa nhận diện thái độ tiêu cực, đối tượng bị nhắm tới và những rủi ro có thể phát sinh trong giao tiếp. Việc hiểu nghĩa không tự động dẫn đến chấp nhận hoặc sử dụng. Quyết định sử dụng phụ thuộc vào nền tảng, đối tượng giao tiếp, mức độ thân quen, tính chính thức của tình huống và vai trò xã hội của người nói. Người tham gia vừa ghi nhận tính sáng tạo và hài hước của các biểu thức này, vừa thận trọng trước nguy cơ gây hiểu lầm, tổn thương hoặc vượt quá ranh giới quan hệ. Nghiên cứu góp phần nhìn nhận từ lóng tiêu cực trên mạng như một thực hành ngôn ngữ xã hội phụ thuộc vào ngữ cảnh và quan hệ giao tiếp.</p> Trường Giang Nguyễn Đức Nam Phan Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2026-06-30 2026-06-30 72 82 10.58902/tcnckhpt.v5i2.384 CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ VÀ THỂ CHẾ KINH TẾ TRONG MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/380 <p>Trong lý thuyết phát triển, mối quan hệ biện chứng giữa thể chế chính trị và thể chế kinh tế quyết định sự thành bại của một quốc gia. Tại Việt Nam, mô hình tăng trưởng cũ dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ đang chạm trần giới hạn. Để đạt mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, việc đánh giá cơ chế tác động qua lại giữa hai thể chế này là một đòi hỏi thực tiễn cấp bách nhằm khơi thông các "điểm nghẽn". Để giải quyết bài toán lưỡng nan này, Việt Nam bắt buộc phải thực hiện cải cách đồng bộ thể chế chính trị và thể chế kinh tế một cách quyết liệt hơn. Bài viết đề cập đến cơ sở lý thuyết của cơ chế tác động qua lại giữa thể chế chính trị và thể chế kinh tế, đồng thời phân tích thực tiễn tác động thể chế chính và thể chế kinh tế đến phát triển kinh tế xanh, kinh tế tư nhân và mở rộng không gian phát triển mới. Phần bàn luận của bài viết xoay quanh 3 vấn đề rút ra từ kết quả nghiên cứu. Đó là vấn đề có tính cấp bách đặt ra buộc Việt Nam phải giải quyết quyết liệt cơ chế tác động đến thể chế chính trị và thể chế kinh tế trong mô hình phát triển hiện nay.</p> Thị Hằng Trần Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2026-06-30 2026-06-30 1 10 10.58902/tcnckhpt.v5i2.380 ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA VÀ ĐỘC TÍNH CẤP TÍNH CỦA CÂY KALANCHOE PINNATA TẠI VIỆT NAM https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/388 <p>Kalanchoe pinnata là cây thuốc phân bố rộng, được sử dụng lâu đời trong y học cổ truyền Việt Nam. Nghiên cứu này đánh giá tổng năng lực chống oxy hóa (Total Antioxidant Capacity – TAC) của dịch chiết hydroalcol từ lá tươi K. pinnata thu hái tại Việt Nam, đồng thời khảo sát độc tính cấp của các phân đoạn dung môi. Hoạt tính chống oxy hóa được xác định bằng các phương pháp Folin-Ciocalteu (FCR), FRAP, CUPRAC và phosphomolybdenum (PM). Độ tin cậy của phép đo quang phổ được đảm bảo thông qua đường chuẩn, hiệu chỉnh nền và phân tích lặp ba lần. Độc tính cấp được đánh giá trên cá ngựa vằn (Danio rerio) theo hướng dẫn OECD 203. Kết quả cho thấy dịch chiết có hoạt tính khử phụ thuộc nồng độ; năng lực chống oxy hóa tăng theo nồng độ và liên quan chặt chẽ đến hàm lượng polyphenol nội sinh. Phân đoạn ethyl acetat thể hiện độc tính cao nhất với cá ngựa vằn, với LC₅₀ đạt 34,2 μg/mL, cho thấy sự làm giàu các chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học. Những kết quả này cho thấy lá K. pinnata tại Việt Nam là nguồn tiềm năng chứa hợp chất chống oxy hóa và các phân đoạn giàu hoạt tính, phục vụ nghiên cứu hóa thực vật định hướng hoạt tính sinh học trong tương lai.</p> Thị Hồng Nhung Nguyễn Thị Thu Ngô Ngọc Linh Nguyễn Thị Thái Nguyễn Thái Uy Nguyễn Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2026-06-30 2026-06-30 83 91 10.58902/tcnckhpt.v5i2.388 ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG POLYPHENOL TOÀN PHẦN VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA MỘT SỐ MẪU CHÈ XANH TẠI TỈNH PHÚ THỌ https://jsrd.thanhdo.edu.vn/index.php/khpt/article/view/375 <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định hàm lượng polyphenol toàn phần và đánh giá hoạt tính chống oxy hóa của 09 mẫu chè xanh tại tỉnh Phú Thọ bằng phương pháp Folin–Ciocalteu và DPPH. Điều kiện chiết tối ưu gồm ethanol 70%, thể tích dung môi 30 mL, thời gian chiết siêu âm 30 phút và chiết 2 lần. Phương pháp phân tích có độ tuyến tính tốt (R² = 0,9998), độ lặp lại cao (RSD = 0,57%) và độ thu hồi đạt 97,02–100,58%. Hàm lượng polyphenol toàn phần của các mẫu chè khảo sát dao động từ 195,70–350,64 mg GAE/g dược liệu khô và giá trị IC₅₀ từ 13,85–21,63 μg/mL. Mẫu chè Tân Sơn cho hàm lượng polyphenol cao nhất và hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất. Hàm lượng polyphenol toàn phần có tương quan nghịch mạnh với giá trị IC₅₀ (r = −0,903; p &lt; 0,01). Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu về hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa của chè xanh Phú Thọ, đồng thời cho thấy tiềm năng của nguồn nguyên liệu địa phương trong phát triển các sản phẩm giàu hợp chất chống oxy hóa tự nhiên.</p> Thị Minh Diệp Nguyễn Thị Huệ Thanh Kim Thị Hồng Vân Đinh Thị Mai Hương Phí Quốc Tuấn Phạm Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển 2026-06-30 2026-06-30 92 99 10.58902/tcnckhpt.v5i2.375